“Định vị” là xác định vị trí của bản thân mình, hiểu rõ bản chất, quan sát đánh giá tất cả các ưu, nhược điểm, sở trường, sở thích từ đó xây dựng hướng đi và sự nghiệp một cách nhất quán và hiệu quả.
Thấu hiểu bản thân
Tôi nghĩ rằng đây là bước khó nhất trong hành trình định vị bản thân. Cá nhân tôi đã mất rất nhiều năm để có thể nhận ra mình là ai và muốn làm gì trong cuộc đời này. Tôi có lẽ sẽ không thể thấu hiểu bản thân mình nếu như không sống một mình lâu như vậy. Tôi có lẽ cũng sẽ không thấu hiểu bản thân mình nếu ngừng đọc sách. Tôi có lẽ sẽ không thể thấu hiểu bản thân nếu thiếu đi sự dò dẫm bước về phía trước, gặp khó khăn rồi đau khổ, rồi vượt lên. Tôi có lẽ cũng sẽ không thể thấu hiểu bản thân nếu thiếu đi sự dũng cảm đương đầu với thử thách. Tôi có lẽ sẽ không thể thấu hiểu bản thân nếu thiếu đi việc sẵn sàng làm bạn với cô đơn. Nếu bạn là người sinh ra đã biết mình cần gì, muốn gì, và dồn tất cả tâm huyết mạnh dạn thực hiện mong muốn và ước mơ đó thì bạn thật vô cùng may mắn. Bạn chính là ước mơ của tôi cách đây mười năm.
Thấu hiểu cơ thể
Mười năm chính là khoảng thời gian mà tôi đã dành để từng bước thấu hiểu bản thân mình. “Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân”, bước chân đầu tiên có lẽ là Yoga. Tôi không phải người yêu thích thể thao, thậm chí còn lo lắng điểm thể dục sẽ kéo thành tích học tập của tôi xuống trong những ngày còn trên ghế nhà trường. Bốn năm đại học và một năm sau ra trường đó là những ngày liên tục ngủ ngày cày đêm. Trong tư tưởng lúc đó của tôi luôn cho rằng, việc thức đêm, hết đêm này đến đêm khác như một thành thích, một niềm tự hào và một sở thích. Phần lớn khoảng thời gian thức đêm đó là để xem phim và đọc sách. Những ngày thi học kỳ thì tôi sẽ dùng một đêm ngày trước đó ôn bài. Đó là một điều phổ biến trong cuộc sống sinh viên của chúng tôi cho tới những năm đầu tiên đi làm. Việc sinh hoạt không khoa học đó khiến cơ thể tôi cảm thấy mệt mỏi, tinh thần uể oải. Yoga giúp tôi thoát khỏi guồng quay sinh hoạt vô bổ đó. Tôi nhận ra rằng hình như cơ thể mình phù hợp với môn thể thao này.
Bạn có thể phản đối tôi rằng Yoga không phải một môn thể dục thể thao, đó là một bộ môn khoa học. Đúng vậy, đó thực tế là một bộ môn khoa học vượt ra ngoài thân thể. Tuy nhiên, trong suy nghĩ của một cô gái 24 tuổi khi đó thì Yoga là một bộ môn thể dục thể thao. Vô hình chung, tôi là người tập luyện giỏi nhất trong lớp khi đó, điều đó khiến tôi cảm thấy hưng phấn đến lớp tập luyện rất đều đặn, thâm chí tôi còn dậy sớm vào buổi sáng để tập luyện thêm ngoài giời tập ở lớp. Sự thay đổi tích cực đó khiến không chỉ tôi và rất nhiều người xung quanh bất ngờ.
Tuy nhiên khi đứng ở vị trí hiện tại để nhìn lại, tôi phải chân thực thừa nhận rằng sự hưng phấn thay đổi khi đó đến từ việc tôi chứng minh được mình giỏi một thứ gì đó dưới ánh nhìn của người khác. Cho tới rất nhiều năm sau đó, tôi vẫn kiên trì hàng ngày thực hành Yoga và giuơng cao khẩu hiệu “Tôi yêu Yoga” cho thế giới. Nhưng ẩn sâu trong lớp vỏ đó là tình yêu tôi dành cho hình ảnh của mình trong sự ngưỡng mộ của người khác. Nhưng Yoga lại khác. Nếu Yoga có thể sống như một cô gái hay chàng trai thì tôi chắc chắn cô gái hay chàng trai ấy sẽ biết rõ rằng tôi chỉ đang lợi dụng hình ảnh của họ để phô diễn cho hình ảnh của chính mình. Nhưng dù biết vậy, cô hay anh ấy vẫn không phản bội mà tiếp tục đồng hành giúp đỡ tôi, giúp tôi hiểu và yêu cơ thể của mình, giúp tôi khoẻ mạnh, dẻo dai, tinh thần phấn chấn hàng ngày. Thực ra, tôi cũng đã cố gắng rất nhiều, nỗ lực và đều đặn phối hợp nhịp nhàng với sự giúp đỡ đó để có một kết quả mà tôi cảm thấy hài lòng.
Trước đây, trang Facebook của tôi sẽ tràn ngập những hình ảnh tôi khoe những tư thế Yoga khó ở một nơi nào đó, nhưng giờ đây đã không còn nữa. Có lẽ tôi đã trưởng thành để thấu hiểu sâu sắc điều mình muốn, không phải là những hình ảnh đẹp đẽ, sáo rỗng bề ngoài.
Nếu bạn là một người sôi nổi, hướng ngoại và cảm thấy rằng Yoga quá nhàm chán, quá tầm thường, quá nhạt nhẽo, bạn cần một điều gì đó sôi động hơn. Hãy cứ làm. Làm bất cứ điều gì bạn nghĩ tới. Chạy bộ, bơi lội, khiêu vũ, bóng rổ, boxing…Môn thể thao nào cũng được, miễn là bạn có thể trút hết những cảm xúc tiêu cực của mình ra ngoài và cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Người ta nói rằng: Khi muốn giải toả căng thẳng thì hãy chạy bộ, khi muốn suy ngẫm thì hãy đi bộ. Tôi đã thực hiện điều này và thực sự hiệu quả. Một cơ thể nhày nhụa mồ hôi, một ly bia lạnh bốc hơi chính là cảm giác sảng khoái, thoải mái nhất của tôi mỗi khi tôi cảm thấy áp lực và mệt mỏi.
Ngoài tập luyện Yoga, tôi còn tham gia chạy bộ, leo núi, bơi lội nếu có dịp. Hoạt động ngoài trời sẽ khiến bạn cảm thấy thật ra bạn không hề yếu đuối, cơ thể vẫn luôn ở đó ủng hộ bạn. Hành trình vạn dặm bắt đầu từ một bước chân. Bước chân đầu tiên luôn là điều khó nhất. Chỉ cần bạn vượt qua bước chân đầu tiên và bắt đầu, mọi chuyện phía sau sẽ đơn giản.
Thấu hiểu suy nghĩ
Thiền là một dạng thể dục cho tâm trí. Nếu thiền nhiều, tâm trí của bạn sẽ trở lên an tĩnh hơn, nhạy cảm hơn, bạn có thể tập trung sự chú ý một cách mạnh mẽ hơn, trong thời gian lâu hơn. Sự giống nhau giữ thể dục tâm trí và thể dục cơ bắp là thể dục cơ bắp làm cơ bắp của bạn khoẻ mạnh, mở rộng giới hạn chịu đựng của cơ thể. Thiền giúp tâm trí bạn rõ ràng, mạnh mẽ, an tĩnh và mở rộng sức chịu đựng về áp lực tinh thần tốt hơn.
Người ta cho rằng thiền và việc tập trung không được để suy nghĩ đi lang thang. Nhưng một cách tự nhiên, suy nghĩ của chúng ta sẽ đi lang thang, thiền là cách nhận biết suy nghĩ đang đi lang thang và đưa nó trở về với cơ thể. Khi bạn càng nhận biết rõ ràng việc suy nghĩ đi lang thang và đưa nó trở về với cơ thể nhiều và lâu hơn nghĩa là bạn đang rèn luyện cho cơ bắp não bộ, tăng sức chịu đựng của nó.
Những ngày thiền đầu tiên của tôi bắt đầu bằng việc quan sát hơi thở ngay sau khi thức dậy vào buổi sáng. Nếu bạn đã tập luyện Yoga tại các lớp yoga cộng đồng có giáo viên hướng dẫn, bạn sẽ thấy rằng mô thức chung của một giờ tập luyện yoga là sơ thiền, khởi động, asana và thư giãn cuối giờ. Bằng việc tự tập Yoga tại nhà, tôi có thể linh hoạt kéo dài hay rút ngắn từng phần tuỳ theo mục đích mà tôi muốn. Một cách tự nhiên, phần đầu tiên (Thiền) được tôi kéo dài hơn từ năm phút, mười phút rồi đến một giờ. Quy trình của thiền của tôi khá đơn giản, chỉ gồm ba phần: Quan sát hơi thở, suy nghĩ xao nhãng, đưa suy nghĩ về với hơi thở. “Hãy thở như thể cuộc đời bạn phụ thuộc vào nó”.
Lúc bắt đầu tập thiền, tôi sử dụng hơi thở có ý thức, nghĩa là đặt tâm trí vào hơi thở, hít sâu và dài sau đó thở ra thật từ từ. Việc này giúp duy trì sự tập trung vào hơi thở lâu hơn. Lâu dần, tôi bắt đầu học cách sử dụng hơi thở tự nhiên khi thiền. Hơi thở tự nhiên là hơi thở ko có bất cứ sự kiểm soát trong đó. Giống như việc bạn thở chỉ để duy trì sự sống vậy. Việc quan sát hơi thở tự nhiên có vẻ khó hơn việc quan sát hơi thở có ý thức. Suy nghĩ dễ bị xao nhãng hơn. Thông thường, các suy nghĩ sẽ xuất hiện không đầu không cuối, nhiều khi tôi không biết vì sao nó đến, cũng không biết vì sao nó đi. Hết lớp suy nghĩ này đến lớp suy nghĩ khác đến đến và đi, không đầu, không cuối. Sau khi rèn luyện năng lực nhận thức và tỉnh táo đưa suy nghĩ về lại với hơi thở, tôi dường như cắt đứt sự đến và đi không đầu không cuối đó. Tôi càng đưa suy nghĩ về với hơi thở càng nhiều thì bạn càng tỉnh táo và thông suốt. Dần dần, tôi có năng lực nhạy bén trong việc nhận thức được rằng suy nghĩ của mình đang đi lang thang và nhanh chóng đưa nó trở về với cơ thể như một phản xạ có điều kiện. Tập càng nhiều, tôi càng trở lên mạnh mẽ.
Suy nghĩ luôn có xu hướng phóng đại thực tế. Quay trở lại với cậu chuyện phỏng vấn vòng thứ hai của tôi ở chương 3. Sau khi kết thúc vòng phỏng vấn, suy nghĩ của tôi chỉ tập trung vào những phần mình thể hiện không tốt, thể hiện sự thất vọng nặng nề về bản thân, phóng đại cả quá trình mà quên mất thực tế rằng có những phần tôi cũng đã làm rất tốt. Thiền giúp tôi đưa suy nghĩ về với cơ thể, cũng có nghĩa đưa suy nghĩ của tôi về với thực tại và bắt đầu quy trình đánh giá thực tế và khách quan. Lần này, may mắn là tôi đã vượt qua nhưng sẽ có những lần khác tôi không được may mắn như vậy. Việc đánh giá nhìn nhận vấn đề thực tế và khách quan cũng sẽ hướng tôi tới việc chấp nhận kết quả dù tốt hay xấu, bắt đầu quá trình nhìn lại thất bại để rút ra bài học cho mình. Thực tế, sau mỗi lần như vậy, tôi vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi cảm xúc thất vọng. Do đó, tôi tự cho mình tối đa ba mươi phút sau thời gian phỏng vấn để chìm đắm trong cảm xúc. Kết thúc ba mươi phút đó, khi đồng hồ báo thức vang lên, tôi bắt đầu hoạt động và làm việc để kéo mình ra khỏi thung lũng cảm xúc đó. Tôi yêu cầu mình chấp nhận thực tại và sẵn sàng tâm lý cho kết quả xấu nhất.
Thiền Vipassana.
Sau khi nghỉ việc, có thời gian, tôi đã quyết định tham gia khoá thiền tập Vipassana 10 gày tại trung tầm thiền Việt. Để nói về những hiểu biết sâu sắc về thiền Vipassana, tôi không thể làm được vì bản thân mình chưa có đủ trải nghiệm thực tế, sức mạnh nội tâm và kiến thức chuyên môn chia sẻ về kỹ thuật cũng như kiến thức chuyên sâu. Chỉ có những Thiền Sư trong các khoá thiền chính thức mới có thể làm điều này. Ở đây, tôi xin phép được chia sẻ những cảm nhận của mình về một phương pháp thiền cổ xưa này và nó đã bắt đầu thay đổi tôi ra sao. Mỗi người có một con đường khác nhau để tìm được sự bình an cho chính mình, tôi hi vọng rằng bạn sẽ tìm được con đường đó.
Vipassana là một kỹ thuật thiền cổ xưa, có nghĩa là “thấu thị” hoặc “nhìn rõ”. Vipassana được Đức Phật Siddhartha Gautama tái phát hiện và truyền dạy tại Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm. Tương truyền rằng, sau khi Đức Phật giác ngộ, ngài đã truyền dạy kỹ thuật thiền này cho các học trò của mình và họ đã lan truyền phương pháp thiền này khắp miền bắc Ấn Độ. Kỹ thuật này đã trở lên phổ biến nhờ vào hiệu quả trong việc thanh lọc tâm trí và đạt được sự giải thoát khỏi khổ đau. Ngày nay, Vipassana được giảng dạy phổ biến bởi thiền sư S.N Goenka và các thiền sư học việc của thầy. Kỹ thuật này được thầy Goenka học từ sư phụ của thầy là Thiền sư Sayagyi U Ba Khin ở Miến Điện. Vị này là học trò của thiền sư Saya U Thet, một thiền sư nổi tiếng ở Miến Điện vào nửa đầu thế kỷ 20. Thiền sư Saya U Thet là học trò của thiền sư Ledi Sayadaw, một vị sư và cũng là học giả Miến Điện nổi tiếng vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Chưa có một tài liệu nào xa hơn nữa môt tả về các thiền sự dạy kỹ thuật thiền này. Tuy nhiên, những người thực hành thiền Vipassana tin rằng ông Ledi Sayadaw đã học từ những bậc thầy truyền thống, là những người đã gìn giữ kỹ thuật thiền này qua nhiều thế hệ.
Để tham gia khoá thiền, tôi cần đăng ký ghi danh qua website chính thức của tổ chức thiền Vipassana. Khoảng 10 ngày sau tôi nhận được thư xác nhận rằng tôi có được nhận hay không. Tôi sẽ được thông báo trước những việc mình cần cam kết thực hiện khi tham gia khoá thiền này. Tôi cần ở yên trong trung tâm thiền viện trong vòng 10 ngày, hoàn toàn cách ly với thế giới bên ngoài. Trong khoảng thời gian này, tôi sẽ không được sử dụng điện thoại cá nhân. Tôi không được giao tiếp với những người xunh quanh kể cả các hình thức giao tiếp bằng hành động, được gọi là sự im lặng thánh thiện. Các bữa ăn được phục vụ là thực phẩm thuần chay. Trong suốt mười ngày, tôi không được sát sinh và không được quan hệ tình dục. Đây gọi là năm giới mà bất cứ thiền sinh nào cũng phải thực hiện khi bắt đầu khoá thiền. Tôi hiểu rằng việc thực hiện những điều này nhằm mục đích để giữ cho tâm ta tĩnh lặng, không bị xáo động bới bất cứ một nhân tố nào. Đây là một cơ hội hiếm có, nơi mà việc ta cần làm là tập trung vào việc tìm hiểu bản thân mình mà không cần lo lắng tới bất cứ điều gì ngoài kia.
Công việc của tôi trong mười ngày này là dành ít nhất 8 giờ ngồi thiền bắt đầu từ 4h30 sáng và kết thúc vào lúc 21h30 tối. Trong đó, có ba giờ ngồi thiền bắt buộc vào buổi sáng, trưa và tối, mỗi buổi một giờ. Trong ba giờ này, tôi không được phép ra khỏi thiền đường và được khuyến khích giữ nguyên một tư thế trong khi ngồi thiền. Ngoài ra các giời nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân, ăn uống, tham vấn thiền sư đều được quy định với thời gian biểu rõ ràng. Mười ngày ở đây, tôi đã sinh hoạt vô cùng khoa học theo thời gian biểu đã được quy định sẵn cứ giống như một người khác, một người hoạt động có ý thức chứ không phải theo cảm giác hay sở thích.
Khi bắt đầu tham gia khoá thiền tập Vipassana, tôi sẽ được chia sẻ rằng không có tính chất giáo phái, bất cứ người nào cũng có thể chấp nhận và áp dụng. Đây là một phương pháp khám phá thế giới nội tâm của mỗi người. Vipassana là một kỹ thuật quan sát thực tại từ mọi khía cạnh, thay vì thận trọng sửa đổi hình ảnh của chính mình, chúng ta phải đối diện với toàn bộ sự thật không cắt xén. Một vài khía cạnh trong đó rất có thể khó chấp nhận. Trong lúc hành thiền, đôi khi ta thấy được sự bình an trong nội tâm, đôi khi ta thấy dao động. Đó là điều rất bình thường vì ở đây ta đang học cách quan sát cảm giác của chính mình để thực nghiệm quy luật tự nhiên, quy luật vô thường. Để cho tâm vô minh của ta cảm nhận được rằng mọi sự trên thế gian là vô thường, có đến có đi, có sinh có diệt. Không có gì trường tồn mãi mãi. Từ đó ta nhận ra rằng con đường đi tìm bình an nằm ở trong chính con người ta. Thế giới chỉ bình an khi con người bình an.
Duy trì tư thế ngồi trong vòng tám giờ một ngày không hề dễ dàng. Lần đầu tiên tôi thấy việc ngồi và thở thôi cũng tốn nhiều năng lượng đến vậy. Khó khăn đầu tiên mà tôi gặp phải là sự buồn ngủ. Tôi đã ngủ gật không chỉ vào buổi sáng mà có thể vào tất cả các giờ trong ngày và ngày nào cũng vậy. Đây là một điều tự nhiên, do đó, khi cảm thấy mệt, tôi không cố ép mình mà chợp mắt một chút trong tư thế ngồi đó. Đến khi tỉnh dậy, tôi bắt đầu quay về với việc ngồi thiền và bắt đầu lại từ đầu. Khó khăn thứ hai đó là sự đau đớn. Trong vòng mười ngày, các bộ phận của cơ thể tôi đã thay lên tiếng kêu đau, từ bàn chân, các ngón chân, đầu gối, thắt lưng, vai, đầu, cổ. Việc ngồi lâu trong tư thế khoanh chân đã khiến nước mắt tôi có những lúc lăn dài trên má. Đến đoạn này bạn sẽ hỏi tôi rằng vì sao lại cần khổ vậy? Tôi nghĩ rằng, tôi đã dành thời gian, sự quyết tâm vượt qua suy nghĩ tiêu cực rằng mình không thể thực hiện năm giới liệt kê ở trên, rằng tôi ở đây được trang bị đầy đủ điều kiện để thanh lọc tâm mình, nếu tôi không cố gắng vượt qua nỗi đau này thì thật có lỗi với sự cố gắng của bản thân. Đó là lý do tôi đã cố gắng hết mình để làm theo sự hướng dẫn của thiền sư trong suốt khoá học. Càng về sau, khi cơ thể bắt đầu quen dần với thời khoá biểu và sức chịu đựng của cơ thể tăng lên, thì nỗi đau thể xác cũng vơi đi dần. Tôi học được cách thả lỏng cơ thể đến làm dịu cơn đau. Khi cơn đau xuất hiện, theo một lẽ tự nhiên, cơ thể sẽ gồng lên để chống chọi với cơ đau đó. Tuy nhiên, khi tôi bắt đầu đưa ý thức thả lỏng đến bộ phận bị đau thì sự đau đơn dần dần giảm xuống, cứ như một liều aspirin tự nhiên vậy. Và khi tôi đã vượt qua cơn đau đó thì dường như cơ thể tôi hiểu rằng nỗi đau đã qua và không quay lại nữa. Lần đầu tiên tôi nhận ra sự thả lỏng hoàn toàn lại có sức mạnh đến vậy. Đó cũng là bài học chứng nghiệm về sự vô thường bằng cảm giác trên thân thể.
Trái ngược với cảm giác đau đớn là cảm giác khoái cảm. Tôi cũng được trải nghiệm những cảm giác này trong quá trình hành thiền. Toàn bộ cơ thể sẽ hàng nghìn dây thần kinh cảm giác đo đó mỗi bộ phận mang đến cho tôi những cảm giác khác nhau. Có bộ phận mang lại cảm giác đau đơn, tê mỏi như bàn chân, các ngón chân và các đầu gối. Có bộ phận mang đến cảm giác khoái cảm, nhẹ nhàng râm ran khi tôi hướng sự chú ý tới như đỉnh đầu, mang tai, mắt mũi miệng, sống lưng…Cảm giác khoái cảm đến và đi nhanh hơn cảm giác đau đớn, tê mỏi rất nhiều. Có lẽ đó cũng là lý do vì sao chúng ta thường cảm nhận niềm vui của cuộc sống này thật ngắn ngủi, nhưng sự đau đớn lại quá dài, có những nỗi đau như khắc trên đá mà cả đời ta cũng không thể quên được. Và thật vui tôi đã học cách rèn luyện mình bình tâm. Tôi biết cách tách ý thức của mình ra để quan sát cảm giác. Dù bị muỗi đốt, tôi có thể làm chủ cơ thể mình, ngồi im quan sát sự ngứa ngáy, râm ran, nhột nhột đó đến và đi như thế nào.
Một bài học quý giá khác tôi học được trong mười ngày này là kiểm soát sự tự cao của bản thân. Những ngày đầu tiên, tôi cho rằng mình giỏi, rằng mình đã hành thiền trong nhiều năm qua thì tôi có thể nhanh chóng nắm bắt, quan sát được cảm giác. Mỗi ngày, sau khi được truyền giảng kỹ thuật mới, thiền sư sẽ gọi bạn tới và hỏi bạn rằng, bạn có làm được điều này không, làm được điều kia không, có câu hỏi gì không. Câu trả lời của tôi luôn là tôi làm được. Tôi tự cho rằng mình giỏi, mình tốt, mình có tư chất để cảm thụ rất nhanh. Trước đó, khi có một bộ phận nào đó bị đau, tôi sẽ ngồi đó, đối mặt trực tiếp với nó, trong đầu thầm nghĩ không biết khi nào nỗi đau sẽ qua, mong nó sẽ qua nhanh, qua thật nhanh, cảm giác dễ chịu sẽ đến, đến thật nhanh. Trong khi lời giảng của thầy là: Khi đến ý thức đi đến một bộ phân có cảm giác thô thiển thì hãy chỉ ở đó một phút rồi tiếp tục đi tới bộ phận khác. Tôi thì lại cứ mãi ở đó, mong chờ cơn đau sẽ qua. Khi tôi càng chú ý tới nó thì nó lại càng đau hơn và càng lâu đi hơn. Cho đến ngày thứ chín, như thường lệ, tôi ngồi đó trải nghiệm những cảm giác đau đớn, tôi bừng tỉnh rằng, tất cả những trải nghiệm của tôi những ngày trước đó đã sai. Đừng chú ý tới cơn đau đó, đừng mong chờ gì cả, ý thức cứ làm việc của mình, xem xét cảm giác của từng bộ phận trên cơ thể từ trên xuống dưới, từ dưới trên theo lời giảng của thiền sư. Bất ngờ một cách tự nhiên, một lúc nào đó tôi không thấy đau nữa. Ở đó tôi nhận ra rằng hoá ra mình đã sai, rằng mình không là gì trong thế giới này, rằng sự không mong cầu, không chờ đợi thì mọi sứ sẽ đến và đi một cách nhẹ nhàng.
Năng lực tự nhận thức đến sự tự chủ cảm xúc.
Daniel Goleman định nghĩa tự nhận thức là: biết các trạng thái cảm xúc bên trong, các ưu tiên, các nguồn lực và các trực giác của mình. Ông cho rằng: Năng lực cảm xúc là một khả năng có thể học được dựa trên trí thông minh cảm xúc. Trong lĩnh vực tự nhận thức có ba năng lực cảm xúc là:
- Nhận thức cảm xúc: Nhận ra cảm xúc của mình và các tác động của chúng.
- Tự đánh giá chính xác: Biết các điểm mạnh và giới hạn của mình.
- Tự tin: Cảm giác mạnh mẽ về giá trị và năng lực của bản thân
Quay lại với cơn đau trong lúc ngồi thiền ở câu chuyện bên trên, tôi cứ tưởng rằng đó là một trải nghiệm đặc biệt nhưng sau khi đọc tới phần “Tập buông thả” trong cuốn sách “ Search inside yourself” của tác giả Chade – Meng tan, tôi hiểu rằng đó là một công thức chung của tâm trí khi đối diện với sự đau đớn hay sung sướng. Cảm giác tôi mong sự đau đớn đi qua thực chất chính là một dạng cảm xúc “tôi ghét cảm giác đau này”. Vì ghét cảm giác đau đó cho nên tôi mong nó đi qua thật nhanh để tôi có thể được hưởng thụ cảm giác dễ chịu. Chúng ta có năm giác quan để tiếp xúc với thế giới. Sự tiếp xúc của năm giác quan đối với hiện tượng bên ngoài sinh ra cảm giác trên cơ thể chúng ta. Ngay khi cơ thể ghi nhận cảm giác thì trong tâm ta sẽ phát sinh cảm xúc đối với các cảm giác đó. Sự đau đớn trên cơ thể khiến ta cảm thấy chán ghét, muốn nó đi qua thật nhanh. Sư thoải mái trên cơ thể khiến ta cảm thấy vui sướng và mong muốn nó tồn tại thật lâu. Sẽ có một khoảng trống rất nhỏ giữa việc hình thành cảm giác trên cơ thể và cảm xúc trong tâm, nếu đủ tinh tế, chúng ta sẽ nhận ra điều đó.
Tôi đã nghĩ đến việc tìm cách để làm chủ không có cảm xúc phát sinh, nhưng đó dường như là một sự kìm nén khiến bản thân cảm thấy khó chịu. Thực tế, Paul Ekman, một trong những nhà tâm lý học lỗi lạc nhất thế giới cho rằng: Không thể khiến một suy nghĩ hay một cảm xúc không khởi lên được. Tuy nhiên mặc dù chúng ta không thể khiến một suy nghĩ tiêu cực hoặc một cảm xúc không lành mạnh khởi lên, chúng ta có thể học cách buông thả chúng để chúng đi một cách tự nhiên theo quy luật vô thường của vũ trụ, “giống như viết trên nước” vậy.
Chúng ta có thể học cách nhận ra khoảng trống vi tế giữa cảm giác và cảm xúc cũng như rèn luyện tâm mình giống như nước bằng việc tập thiền, dùng tâm thức tỉnh táo để đối diện với các cảm giác phát sinh, nhận thức cảm xúc xảy ra sau đó và lẳng lặng nhìn cảm xúc đó đi qua. Nói thì dễ vậy nhưng thực hiện thật không dễ, đòi hỏi sự quyết tâm và năng lực làm chủ bản thân lớn lao. Có những cảm xúc bồn chồn lo lắng, khiến cơ thể rung lên, tôi chỉ muốn làm một việc gì đó ngay lập tức để quên đi trạng thái đó. Tuy nhiên, là một người đã học thiền tôi biết rằng việc trốn tránh không giải quyết được vấn đề. Các giải quyết duy nhất là đối mặt với nó, mạnh mẽ ngắm nhìn nó tới, cuồng loạn, rồi từ từ chìm xuống và qua đi. Những lúc như vậy, tôi thường rất dễ bị căng thẳng, và khi càng căng thẳng thì cảm xúc càng khó chịu. Do đó, việc quay trở về với hơi thở là một giải pháp hữu hiệu. Dù là thở tự nhiên, hay thở có kiểm soát, bất cứ hình thức gì cũng làm chúng ta thoải mái hơn. Ngoài ra, một biện pháp khác cũng hiệu quả không kém đó là sử dụng óc hài hước, tưởng tượng rằng mình đang dùng bút vẽ thêm cho cơn cảm xúc cau có đó vài nét tức cười trên gường mặt rồi nở nhẹ nhàng một nụ cười. Ngay khi, nó qua đi, tôi sẽ không nghĩ về nó ngay lập tức. Một thời gian sau, tôi quay trở lại vấn đề đó để xem xét, đánh giá từ đó rút ra cho mình một bài học kinh nghiệm cho bản thân.
“Thực chất, bản thân trải nghiệm không gây ra khổ mà là việc chúng ta cứ bám chặt lấy chúng, mong mỏi một cách tuyệt vọng rằng chúng sẽ không biến mất mới là nguyên nhân gây ra khổ. thiền sư Thích Nhất Hạnh diễn tả điều này rất hay: hoa héo không gây ra khổ, chính ham muốn vô lý rằng hoa không được héo mới gây ra khổ. Do đó, nếu tâm trí nhận ra điều này và sau đó có khả năng buông thả tham lam thì trải nghiệm sung sướng sẽ tạo ra ít khổ hoặc không tạo ra khổ chút nào. Chúng ta có thể tận hưởng trọn vẹn đó hoa dù cho cuối cùng nó cũng héo.”
Thấu hiểu cách vận hành tư duy (Tư duy nhanh chậm)
Chưa có cuốn sách nào đưa ra những lý luận khoa học sắc bén dựa trên nghiên cứu thực nghiệm về tư duy và các mối liên kết tư duy sâu sắc như cuốn sách Tư Duy Nhanh Chậm, nên hay không nên tin vào trực giác của tác giả Daniel Kahneman đạt giải Nobel về kinh tế năm 2002. Đây không phải là một “cuốn sách” dễ đọc vì nó không mang tính chất giải trí, nó cũng không đưa ra lời khuyên cho bạn nên hay không nên làm gì. Phần lớn cuốn sách dùng để mô tả các nghiên cứu thực nghiệm và đưa ra kết luận dựa trên kết luận dựa trên nghiên cứu thực nghiệm đó. Cuốn sách đưa ra các nhận định sai lầm liên quan tới trực giác và tư duy, hỗ trợ trong việc đưa ra quyết định. Có lẽ cũng vì vậy mà cho tới khi tôi thực sự muốn hiểu mình tư duy như thế nào, tôi mới thấy sự cần thiết để đọc và hiểu cuốn sách.
Ở ngoài kia có nhiều cuốn sách nói về phát triển bản thân, có rất nhiều công thức và nguyên tắc đưa ra cho bạn cần để làm gì quản lý thời gian, làm chủ cảm xúc, đặt mục tiêu và cách thức thực hiện như thế nào nhưng lại có rất ít cuốn sách giải thích lý do cốt lõi vì sao cần thực hiện những nguyên tắc đó. Chúng ta coi đó như một sự thật hiển nhiên. Nhưng vì quá nhiều kết quả và lợi ích được đưa mà không có nguyên nhân giải thích vì sao, làm tôi, chỉ gật gù trong khi đọc cuốn sách, mà quên ngay tức khắc sau khi gập sách lại. Sự tò mò muốn đi tìm nguyên nhân gốc rễ của những lời khuyên ấy đưa tôi đến với cuốn sách này. Và nó cũng xứng đáng đển tôi đầu tư thời gian đọc đi đọc lại 3 lần. Mục đích đầu tiên của tôi khi đến với cuốn sách này cũng như các cuốn sách khác, muốn tìm một cơ sở khoa học thực nghiệm cách vận hành tư duy, từ đó thấu hiểu mối quan hệ của thân – tâm – trí dưới góc nhìn của khoa học, và góc nhìn của thiền định, vận dụng chúng nhịp nhàng trong cuộc sống hàng ngày, giúp tôi có động lực vượt qua những thử thách và khó khăn phía trước.
Cuốn sách nói về những sai lầm mang tính chất tư duy và trực giác khiến chúng ta đưa ra những quyết định không chính xác. Mặc dù không có một biện pháp tuyệt đối nào xử lý những lỗi lầm mang tính chất tư duy đó. Nhưng khi biết được những sai lầm có thể xảy ra cộng thêm suy xét kỹ lưỡng và những kinh nghiệm sẵn có, chúng ta có thể đưa ra quyết định hợp lý trong hoàn cảnh nhất định.
Vấn đề đầu tiên tôi nhận ra đó là tôi có một hệ thống tư duy chậm lười biếng. Có nhiều người nói các ý tưởng đột phá xuất hiện khi họ ở trong trạng thái thư giãn như đang đi tản bộ trong vườn. Khi cơ thể trong trạng thái thoải mái, hệ thống tư duy nhanh không nhận và đưa ra bất cứ tín hiệu nguy hiểm nào cho hệ thống tư duy chậm thì hệ thống tư duy chậm sẽ hoạt động một cách tự nhiên. Khi ta đang ấp ủ, tìm cách giải quyết cho vấn đề gì đó, hệ thống tư duy chậm chậm rãi hoạt động tìm giải pháp cho các vấn đề đó. Do đó, nhiều ý tưởng mới sáng tạo xuất hiện trong thời gian này. Tuy nhiên, khi cơ thể trọng trạng thái căng thẳng, hệ thống tư duy nhanh đưa ra các tín hiệu cho hệ thống tư duy chậm cần tập trung để làm chủ, kiểm soát cơ thể thì rất khó để các ý tưởng sáng tạo xuất hiện. Ví dụ ta đặt mục tiêu cho bản thân nỗ lực chạy bộ mười km trong vòng một giờ đồng hồ. Lúc này, hệ thống tư duy nhanh tiếp nhận mục tiêu và không ngừng thúc giục hệ thống tư duy chậm phải giữ nguyên tốc độ. Khi cơ thể càng mệt mỏi, ham muốn chạy chậm lại thì hệ thống tư duy chậm càng cần huy động nhiều nỗ lực để duy trì tốc độ hiện tại đạt được mục tiêu. Trong thời gian thực hiện nỗ lực này, hệ thống tư duy chậm không đủ thời gian và không gian để xử lý vấn đề khác. Do đó, việc các ý tưởng mới xuất hiện trong tình trạng hệ thống tư duy chậm căng thẳng nỗ lực hoàn thành mục tiêu là rất khó.
Khi hệ thống tư duy chậm đang nỗ lực thực hiện một nhiều vụ căng thẳng, thì chúng ta sẽ dễ bị cám dỗ bởi những ham muốn. Chúng ta thích ăn bánh ngọt nhưng đang cố gắng hạn chế để kiểm soát cân nặng. Chúng ta chạy bộ để giảm cân, nhưng khi chạy bộ xong chúng lại ăn nhiều bánh ngọt hơn. Điều đó càng dễ xảy ra khi miếng bánh ngọt đó xuất hiện trước mắt khi chúng ta hoàn thành xong mục tiêu. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng não bộ tiêu thụ nhiều đường glucose hơn so với các bộ phận khác khi tập trung đưa ra một quyết định trí óc hay tham gia hoạt động đòi hỏi năng lực tự chủ cao độ. Do đó, ăn đồ ngọt thường giúp ta thoải mái hơn sau khi hoạt động căng thẳng.
Sự nỗ lực của hệ thống tư duy chậm dễ dưa cơ thể vào tình trạng mệt mỏi dẫn đến việc chúng ta có thiên hướng đưa hệ thống tư duy nhanh tham gia vào quá trình suy luận. Cùng với sự đóng góp của những kinh nghiệm đã thu lượm được trước đó, chúng ta có thiên hướng đặt niềm tin vào trực giác của bản thân mình như chơi các trò chơi may rủi. Hiểu được vấn đề này, tôi luôn tự nhắc nhở mình về việc cảnh giác với những câu trả lời vội vã, đồng thời hoài nghi về trực giác của chính mình. Tuy nhiên, việc kêu gọi hệ thống tư duy chậm tham gia vào tất cả các tình huống diễn ra hàng ngày là điều không thể. Vì vậy, ta cần chấp nhận sự tương đối trong quá trình ra quyết định, đồng thời ưu tiên sự tham gia hệ thống tư duy chậm vào các vấn đề quan trọng.
Vấn đề thứ hai là bộ máy liên tưởng. Lần này, ngoài hệ thống tư duy nhanh và hệ thống tư duy chậm, chúng ta còn một nhân vật khác đóng vai trò quan trọng: Cảm xúc. Sự tồn tại của năm giác quan trên cơ thể không ngừng tiếp nhận tín hiệu từ thế giới bên ngoài và đưa vào tư duy của chúng ta. Khi một thông tin đặc biệt được tiếp nhận, ngay lập tức, hệ thống tư duy nhanh sẽ đưa ra một loạt các liên tưởng, từ ý tưởng này đến ý tưởng khác, ý tưởng này sinh ra ý tưởng khác một cách tự nhiên và thụ động. Điểm cốt lõi trong hệ thống phức hợp các hiện tượng trong trí não chính là sự gắn kết giữa chúng. Mỗi một nhân tố đều được kết nối với một. nhân tố khác, hỗ trợ và được hỗ trợ, củng cố cho nhân tố khác. Một từ khơi gợi ký ức, từ đó tạo ra cảm xúc và cảm xúc lần lượt lại trở thành tác nhân tạo ra những biểu hiện trên gương mặt. Bắt đầu từ một sự kiện bất ngờ, hệ thống tư duy nhanh lập tức đưa ra vô số giả thuyết có vẻ hợp lý, liên kết với các sự kiện diễn ra trong quá khứ mà ta đã trải qua, đồng thời dự kiến khả năng có thể xảy ra trong tương lai. Cảm xúc bắt đầu khởi sinh từ chuỗi liên kết đánh giá này và đồng thời sinh ra các phản ứng tự nhiên trên cơ thể. Như ở một ví dụ trước đó khi tôi nhận định mình đã thể hiện không tốt trong buổi phỏng vấn, một cách tự nhiên tôi có cảm xúc thất vọng, và phản ứng tiếp theo là nằm thu mình trên sofa. Đó là những biểu hiện bên ngoài. Bên trong tôi còn diễn ra một loạt những liên kết suy nghĩ tiêu cực khác như: tôi sẽ không thể tìm được một công việc khác tốt hơn, tôi sẽ sống ra sao trong thời gian sau này, những cảm giác mông lung tiêu cực dần xuất hiện, phản ứng mạnh mẽ hơn là khóc…Tất cả những phản ứng này diễn ra một cách tự nhiên khi không có sự tham gia của hệ thống tư duy chậm, hay thực tế là tôi không vận động hệ thống tư duy chậm vào quá trình nhận định này. Khi có sự tham gia của hệ thống từ duy chậm, từ phản ứng của cơ thể là tôi bắt đầu ngồi thẳng dậy, vươn vai hít một hơi thật sâu, uống một cốc nước ấm, và bắt đầu quá trình đánh giá lại tình hình, suy tính các bước tiếp theo mình cần phải làm là gì khi thất bại. Những nỗ lực này cần sự đánh thức hoặc từ yếu tố bên ngoài hoặc từ nỗ lực bên trong. Đó là lý do vì sao chúng ta cần luôn sống trong tỉnh thức, dùng lý trí làm chủ cảm xúc của mình vượt qua những khoảng thời gian lên xuống của cuộc sống.
Theo quan điểm của phật giáo, sự xúc chạm của Sáu giác quan bao gồm 5 giác quan và tâm ý là nguồn gốc sinh ra yêu, ghét, giận hờn, khổ đau. Thế giới ngoài kia đầy rẫy những hiện tượng, âm thanh, mùi vị, cảnh sắc, sinh ra cảm giác trên thân thể, cộng với những suy nghĩ, kinh nghiệm tạo ra những cảm xúc. Những cảm giác dễ chịu sinh ra cảm xúc yêu thích, cảm giác khó chịu sinh ra cảm xúc ghét bỏ. Do đó, Đức Phật luôn hướng dẫn các thiền sinh của mình cần tách biệt “đối tượng quan sát” và “người quan sát” . Đối tượng quan sát là các cảm xúc khởi sinh từ các cảm giác diễn ra từng giây từng phút, người quan sát giống như hệ thống tư duy chậm, bình tĩnh, khác quan, nhận biết quy luật tự nhiên, quy luật vô thường, nhận thức phản ứng của cơ thể và làm chủ hành động của mình. Trong chương 10, cuốn sách “Nghệ thuận sống” của tác giả William Hart và S.N.Goenka có nói rằng: “phương thức dẫn đến sự giải thoát này là nhận thức được rằng, cái mà chúng ta gọi là bản ngã đó thực sự rất phù du, là một hiện tượng liên tục thay đổi…Sự thấu hiểu trực tiếp về vô thường cùng bản chất không thực của bản ngã và của khổ đau giúp ta có được tuệ giác thật sự, dẫn đến sự giải thoát. Đó là sự hiểu biết chân chánh.” Còn Daniel Kahneman cho rằng” Một ý tưởng được kích hoạt sẽ không chỉ tạo ra một mà rất nhiều ý tưởng khác, cũng như bản thân những ý tưởng mới đó lại là ý tưởng khởi nguồn cho những ý tưởng khác nữa. Hơn nữa, chỉ vài ý tưởng được kích hoạt mới đi sâu được vào nhận thức của chúng ta, còn lại hầu hết các hoạt động tư duy liên kết đều diễn ra thầm lặng, ẩn mình trong tiềm thức của mỗi người. Thật khó chấp nhận khái niệm hoạt động trí óc của chúng ta bị hạn chế truy cập, bởi vì, về bản chất, nó quá xa lạ với sự hiểu biết trước đây của chúng ta, nhưng đó là sự thật: Bạn hiểu về bản thân ít hơn nhiều so với bạn tưởng”.
Trong quá trình thiền tập Vipasssana, tôi được hướng dẫn rằng có hàng nghìn loại cảm giác sinh ra và diệt đi trên từng bộ phận nhỏ khác nhau của cơ thể, nhưng chỉ có những cảm giác thô thiển nhức nhối mới khiến chúng ta nhận ra. Ngoài ra, còn hàng nhìn những cảm giác vi tế khác vấn diễn ra từng giây từng phút, mà chúng ta không hề biết rằng chúng tồn tại. Và 10 ngày tham gia khoá thiền đó là 10 ngày tôi học cách nhận biết cảm giác trên từng bộ phận của cơ thể dù là cảm giác tinh tế hay thô thiên. Cũng giống như việc có hàng nghìn ý tưởng thầm lặng diễn ra trong tiềm thức của của chúng ta nhưng chúng ta chỉ nhận thức được một vài ý tưởng. Đúng là chúng ta thật sự hiểu biết về bản thân mình quá ít so với những gì chúng ta tưởng.
Xem bản thân là một sản phẩm phiên bản giới hạn
Cơn bão AI đang càn quét chúng ta, làm tôi tự hỏi mình rằng liệu có phải mình không bằng một con rô bốt hay không? Tôi sợ AI như sợ một nhân vật khổng lồ đang trước mặt tôi nhưng lại trong một màn sương hoàn hảo. Với sức mạnh kinh người, với lượng xử lý thông tin gấp trăm lần bộ não của tôi, khiến tôi hoang mang, hoang mang về một tương lai không có việc làm, hoang mang về một tương lai của một con người tiếp tục vô dụng, thu mình trên ghế sofa. Tôi bắt đầu hỏi AI xem đâu là sự khác biệt giữa trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người. Khi ta hỏi và Deepseek trả lời:
“1. Nguồn Gốc và Bản Chất
- Trí Tuệ Nhân Tạo (AI):
AI là sản phẩm của sự phát triển công nghệ, được tạo ra bởi con người thông qua các thuật toán, dữ liệu và hệ thống máy tính. Nó không có ý thức hay cảm xúc, mà chỉ là sự mô phỏng khả năng nhận thức dựa trên các quy tắc và mô hình toán học. - Trí Tuệ Con Người (HI):
HI là kết quả của quá trình tiến hóa tự nhiên, được hình thành qua hàng triệu năm. Trí tuệ con người gắn liền với ý thức, cảm xúc, và khả năng tự nhận thức, điều mà AI chưa thể đạt được.
2. Khả Năng Học Tập và Thích Nghi
- AI:
AI có khả năng học tập thông qua các thuật toán học máy (machine learning) và học sâu (deep learning). Tuy nhiên, khả năng học tập của AI phụ thuộc hoàn toàn vào dữ liệu được cung cấp và các mô hình được lập trình sẵn. AI không thể học hỏi một cách tự nhiên hay sáng tạo như con người. - HI:
Con người có khả năng học tập linh hoạt và thích nghi cao. Chúng ta có thể học từ kinh nghiệm, môi trường xung quanh, và thậm chí từ những sai lầm. Khả năng sáng tạo và tư duy trừu tượng là những đặc điểm nổi bật của HI.
3. Xử Lý Thông Tin và Tốc Độ
- AI:
AI có thể xử lý lượng dữ liệu khổng lồ với tốc độ cực nhanh, vượt xa khả năng của con người. Nó có thể thực hiện các phép tính phức tạp và phân tích dữ liệu trong thời gian ngắn. - HI:
Mặc dù tốc độ xử lý thông tin của con người chậm hơn so với AI, chúng ta có khả năng hiểu ngữ cảnh, cảm xúc, và ý nghĩa ẩn sau thông tin. Con người cũng có khả năng đưa ra quyết định dựa trên trực giác và kinh nghiệm.
4. Cảm Xúc và Ý Thức
- AI:
AI không có cảm xúc hay ý thức. Mọi hành động của AI đều dựa trên các thuật toán và logic được lập trình sẵn. Nó không thể cảm nhận được niềm vui, nỗi buồn, hay bất kỳ trạng thái cảm xúc nào. - HI:
Cảm xúc và ý thức là những yếu tố cốt lõi của trí tuệ con người. Chúng ta có khả năng đồng cảm, yêu thương, và hiểu được cảm xúc của người khác. Điều này giúp con người đưa ra những quyết định phức tạp và nhân văn hơn.
5. Giới Hạn và Khả Năng Mở Rộng
- AI:
AI bị giới hạn bởi các thuật toán và dữ liệu mà nó được huấn luyện. Nó không thể vượt ra khỏi phạm vi được lập trình và không có khả năng tự cải thiện mà không có sự can thiệp của con người. - HI:
Trí tuệ con người không có giới hạn cụ thể. Chúng ta có khả năng tự cải thiện, học hỏi, và phát triển không ngừng. Con người cũng có thể tạo ra những ý tưởng mới và đột phá mà không cần dựa trên dữ liệu có sẵn.
6. Ứng Dụng và Tác Động Xã Hội
- AI:
AI được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như y tế, giáo dục, giao thông, và công nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng AI cũng đặt ra nhiều thách thức về đạo đức, quyền riêng tư, và an ninh. - HI:
Trí tuệ con người là nền tảng của mọi sáng tạo và tiến bộ xã hội. Chúng ta không chỉ sử dụng trí tuệ để phát triển công nghệ mà còn để xây dựng các giá trị văn hóa, đạo đức, và xã hội.
Và AI kết luận rằng: Trí tuệ nhân tạo và trí tuệ con người là hai khía cạnh bổ sung cho nhau trong thế giới hiện đại. Trong khi AI mang lại sức mạnh tính toán và tự động hóa, HI mang lại sự sáng tạo, cảm xúc, và nhận thức sâu sắc. Sự kết hợp hài hòa giữa hai loại trí tuệ này sẽ mở ra những cơ hội và tiềm năng to lớn cho tương lai.
Ý thức, cảm xúc và sự sáng tạo là những AI dù có muốn cỡ nào đi chăng nữa cũng không thể có. Đây là điểm khác biệt cốt lõi nhất biến chúng ta trở nên khác biệt. Chỉ cần không ngừng nỗ lực tiến bước về phía trước, không dừng lại, không ngừng học hỏi và sáng tạo, vượt lên khó khăn thì ta sẽ luôn khác biệt. Tôi chợt nghĩ rằng mình sợ hãi có phải do mình chưa bắt đầu tìm hiểu phân tích kỹ càng một vấn đề. Sợ vì nghe người ta nói quá nhiều kết quả mà lười biếng không chịu tìm hiểu nguyên nhân, sợ vì chỉ nhìn mặt nổi của một tảng băng chìm đó mà không chìm sâu tìm hiểu bên trong.
Gần đây, tôi ngay thấy một câu nói theo quan điểm của Lão Tử, một triết gia Trung Hoa sống vào thời kì trước công nguyên: Hãy sống mềm mại như nước vì không có gì mềm bằng nước, và cũng không có gì thắng được nước. Trong bộ phim “Dữ Phượng Hành” do Triệu Lệ Dĩnh và Lâm Canh Tân thủ vai, ta thấy một vị thần thượng cổ với đầy đủ các phép thần thông nhưng hoàn toàn đắm mình vào cuộc sống đơn giản của một người bán nhân sâm, hay một ngư dân như một ngư dân chính hiệu. Sau đó, tôi liên kết với chủ nghĩa Khắc Kỷ trước đó, phần nói rằng: Cuộc đời là một sân khấu, dù được giao vai diễn nào thì hãy diễn tốt vai diễn đó. Phật giáo nói rằng cuộc sống vô thường, mọi sự đều thay đổi nên hãy chấp nhận nó để thoát khỏi khổ đau. Lão tử khuyên rằng hãy sống như nước: “Kiên cường giả chi đồ, nhu ngược giả sinh chi đồ. Kiên cường xử hạ, nhu nhược xử thượng”, cứng cỏi thì chết, mềm mại mới sống, cứng cỏi thì kém, mềm mại vẫn hơn.
Phải chăng đây chính là công thức vượt lên khó khăn, sống bình an, thoải mái, tự do, hạnh phúc, an nhiên, tự tại: Bình tĩnh, nhẹ nhàng diễn sâu bất cứ vai diễn được cuộc đời giao phó?
Trong cuốn sách 7 thói quen hiệu quả của tác giả Stephen R.Covey đề cập tới một thói quen tạo ra giá trị khác biệt cốt lõi của trí thông minh con người. Thói quen: Sống kiến tạo. Sống kiến tạo chính là khả năng tự nhận thức và nhận lãnh trách nhiệm kiến tạo cuộc đời mình mà AI không thể tạo ra. Một trong những người sống kiến tạo nổi tiếng là là Victor Frankl, một nhà tâm lý học người Áo, đã sáng lập ra liệu pháp tâm lý logotherpy và từng được đề cử giải Nobel hoà bình thế giới. Cuộc đời ông là minh chứng cho việc chúng ta là ai là do hành động của chúng ta quyết định. Trải qua 4 lần trong trại tập trung của Đức Quốc Xã trong thế chiến thứ 2, và người sống sót cuối cùng của gia đinh, ông tin rằng: khi không còn cách nào để thay đổi hoàn cảnh, chúng ta buộc phải thay đổi chính mình. Ông viết rằng: Anh có thể tước đoạt mọi thứ của con người, trừ một thứ: sự tự do cuối cùng của họ – họ tự do lựa chọn tâm thái trước bất kỳ hoàn cảnh nào của cuộc đời. Quyền tự do lựa chọn thái độ phản ứng trước nghịch cảnh của cuộc sống là cách chúng ta nhận lãnh trách nhiệm kiến tạo cuộc đời mình. Ông cho rằng có ba loại giá trị trung tâm của cuộc đời, đó là giá trị kinh nghiệm (là những gì xảy đến với chúng ta), giá trị sáng tạo (là những gì chúng ta tạo ra trong thực tại) và giá trị thái độ (là phản ứng của chúng ta trước những hoàn cảnh khó khăn).
Quy lại với chủ nghĩa Khắc Kỷ, nơi mà nói rằng các tình huống xảy ra trong cuộc đời chúng ta chỉ nằm trong 3 loại: Những điều chúng ta không thể kiểm soát, những điều chúng ta chỉ có thể kiểm soát một phần và những điều mà chúng ta có thể kiểm soát toàn bộ. Cả thói quen sống kiến tạo của Stephan R.Covey và Victor Frankl đều ủng hộ ba giá trị này và tin rằng cấp độ giá trị thái độ là gía trị cao nhất. Họ tin rằng: nghịch cảnh khó khăn sẽ giúp chúng ta thay đổi góc nhìn về hoàn cảnh theo cách đa chiều khách quan hơn. Cụ thể Stephan R.Covey sử dụng từ như “sự chuyển đổi mô thức”, “những góc nhìn mới mẻ “ tìm thấy bản thân mình” “tìm thấy người khác trong thế giới”. Bằng những kinh nghiệm cá nhân, khó khăn đã từng làm tôi đau khổ, nhưng vượt lên sự đau khổ đó, tôi có những quan điểm mới, những góc nhìn mới, những trải nghiệm mới về cuộc sống. Và hơn hết, khó khăn tôi luyện cho bản thân tôi trở lên mạnh mẽ hơn để đối mặt với những sóng gió của cuộc đời. Nói như vậy không có nghĩa rằng tôi mong muốn nhiều khó khăn đến với mình. Tuy nhiên, cuộc sống còn dài và như chủ nghĩa Khắc Kỷ đã nói: đa số các sự kiện xảy đến với chúng ta là những sự kiện chúng ta chỉ có thể kiểm soát được một phần. Chúng ta không mong đợi khó khăn, chúng ta chuẩn bị một tâm thái vững chãi để đón nhận bất cứ sự kiện khó khăn nào có thể xảy đến với quyền tự do lựa chọn và thái độ sống kiến tạo.
Tuyên ngôn sứ mệnh
Frankl viết trong cuốn Đi Tìm Lẽ Sống rằng: “Nếu cuộc sống này có ý nghĩa, thì khổ đau cũng phải có ý nghĩa. Đau khổ là một phần có thể xoá bỏ khỏi cuộc sống ngay cả số phận đã an bài và từ giã cõi đời. Nếu không có đau khổ và chết chóc thì cuộc sống con người không thể nào trọn vẹn”. Dưới sự quan sát của Frankl trong thời gian ở trại tập trung của Đức Quốc Xã, ông thấy rằng những người bỏ cuộc sớm là những người thiếu hi vọng, thiếu một lẽ sống. Còn những tù nhân tin tưởng vào một tương lai tươi sáng đang đón chờ phía trước sẽ tự tìm ra sức mạnh để chống chọi tới cùng. Do đó, ông tin rằng việc giúp một người thoát ra khỏi những vấn đề tâm lý là đánh thức lẽ sống trong con người họ. Đó là nguồn gốc cho phương pháp trị liệu Logotherapy mà ông đã dành cả cuộc đời để theo đuổi và giúp đỡ được rất nhiều người. Vậy làm sao để tìm ra lẽ sống của chính mình?
Năm 2019, tại Hàn Quốc bùng nổ dịch vụ đám tang giả cho những người còn sống. Ở đó, người ta được trải nghiệm các nghi thức trong một đám tang thông thường bao gồm: nhận khăn niệm, chụp chân dung tang lễ, viết di chúc sau cùng và nằm dài trong quan tài 10 phút. Người ta nói rằng: một khi bạn trải nghiệm về cái chết, bạn sẽ có cách tiếp cận mới về cuộc sống. Tôi tin rằng điều này là đúng. Bằng những trải nghiệm trên thân thể, bằng những cảm giác trực tiếp của sáu giác quan, tôi tin rằng chúng ta sẽ bắt đầu thay đổi tư duy của mình về cuộc sống. Thật tiếc, tôi chưa có cơ hội trải nghiệm dịch vụ này. Tuy nhiên, tôi đã nghĩ nếu mình chết ngày hôm nay, mình sẽ hối tiếc về điều gì? Tưởng tượng lúc đó, tôi là một bóng ma xuất hiện tại đám tang của mình, nhìn người thân, bạn bè, đồng nghiệp. Tôi muốn họ vui vẻ hay đau buồn? Tôi muốn họ nói gì về tôi? Và tôi bắt đầu viết tuyên ngôn sứ mệnh của bản thân như một kim chỉ nam cho những hành động hàng ngày và hàng giờ tôi vẫn đang cố gắng. Hi vọng đến cuối cuộc đời, đích đến là những điều tôi thực sự mong muốn, bằng những viên gạch tôi góp nhặt hàng ngày xây đắp lên.
Tôi đi tìm đích đến của mình bằng cách xây dựng một tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân theo hướng dẫn của Stephan R.Covey trong cuốn sách 7 thói quen hiệu quả. Điều này nằm trong thói quen thứ hai: Bắt đầu bằng đích đến.
Stephan viết rằng: “Con người không thể chịu đựng sự thay đổi nếu bản thân họ không có một cái lõi bất biến bên trong. Chìa khoá để mang lại khả năng thay đổi chính là cảm nhận bất biến mình là ai và sống với giá trị gì. Khi có tuyên ngôn sứ mệnh, ta có thể hoà vào dòng chảy của sự thay đổi. Ta không còn bị các thiên kiến, định kiến chi phối. Ta không cần phải giải mã mọi thứ trong cuộc sống, không phải rập khuôn và phân loại mọi thứ hay mọi người để thích ứng với thực tại. Môi trường thuộc về bản thân ta còn thay đổi với tốc độ nhanh hơn. Và sự thay đổi nhanh chóng này đã đánh gục nhiều người cảm nhận rằng họ không thể kiểm soát hay đối diện với cuộc sống. Họ trở nên bị động và bỏ cuộc, hi vọng mọi thứ xảy đến với họ đều tốt đẹp”.
Chính bản thân tôi đã trải qua điều này ở công việc gần đây nhất, công việc khiến tôi có một cú sốc văn hoá và tôi không biết mình là ai và đang ở đâu. Tôi cảm nhận như bản thân mình đang bị các thế lực bủa vây, mỗi bên kéo tôi đi một hướng mà bản thân tôi không biết mình đang làm đúng hay sai. Sự thiếu một trọng tâm vững mạnh, thiếu một lý tưởng sống, một niềm tin khiến tôi nhanh chóng bị gục ngã trước sự thay đổi chóng mặt của cuộc sống. Đến ngày đó, tôi kiệt sức, nằm dài trên giường ngày qua đêm, để mặc cây cối xung quanh mình dần dần héo úa, thiếu nước, thiếu sức sống mà tôi không nhận ra. Ngày tôi quyết định nghỉ việc là ngày mà tôi nhận thấy vấn đề của mình, tôi cần thoát ra khỏi tình trạng đó, cho mình thời gian, tôi cần đi tìm một công thức cho chính tôi vượt qua khó khăn vì tôi biết rằng đây chỉ là một trong rất nhiều khó khăn tôi cần vượt qua trong suốt chặng đường đời của mình. Tôi cần xây dựng cho mình một bước tường thành vững chắc để dù bão gió cuộc đời có ra sao tôi vẫn sẽ đứng vững. Tuyên ngôn sứ mệnh giống như một bản hiến pháp dành cho bản thân, ở đó bao gồm tất cả sự bình an, nỗ lực và hạnh phúc của chúng ta. Sau đây là bản tuyên ngôn sứ mệnh tôi viết cho chính mình sau khi tham khảo cách xây dựng mà Stephan đã giới thiệu. Cũng giống như Hiến Pháp Mỹ được điều chỉnh 26 lần để phù hợp với sự thay, tuyên ngôn sứ mệnh cá nhân cũng vậy. Tuy nhiên, tôi tin rằng nó sẽ giữ những chuẩn mực, tiêu chí cốt yếu, là trọng tâm không thay đổi.
I. Giá trị cá nhân: Là một người sống có trách nhiệm, cam kết và tinh thần trách nhiệm cao, là một người làm việc vì tổ chức hướng tới mục đích chung với tinh thần chính trực, công minh, liêm chính và rõ ràng. Tôi sẽ đặt những nguyên lý bất biến là trung tâm để soi xét và nhìn nhận vấn đề trên nhiều khía cạnh và lăng kính khác nhau. Tôi sẽ gạt bỏ yếu tố cảm xúc ra bên ngoài để giao tiếp, xử lý và giải quyết vấn đề. Tôi sẽ làm việc với tinh thần chuyên nghiệp cao.
II. Xác định vai trò:
Gia đình: Tôi muốn tôi là người con hiếu thảo, hài hước, là người hiểu biết, hàn gắn những vết nứt trong gia đình, là người tạo ra tiếng cười để thời gian gia đình ở bên nhau thật là thoải mái.
Bạn bè: Tôi sẽ là một người tin cậy, chính trực, giũ lời hứa. Tôi sẽ là một ngườilạc quan, sẵn sàng chấp nhận thử thách, đối mặt khó khăn bằng thái độ tích cực. Luôn hướng về mục đích chung, chung tay giúp đỡ đội nhóm vượt qua khó khăn.
Công việc: Tôi là một người hết mình vì công việc, luôn đứng trên khía cạnh khách quan để suy xét vấn đề, chủ động, sáng tạo tìm cách giải quyết. Tôi sẽ sử dụng sự hình dung và lời khẳng định giá trị của mình cho những mục tiêu mà tôi muốn đạt tới.
– Trong tư cách một người quản lý, tôi sẽ dẫn dắt đội nhóm của mình đi đúng hướng theo mục tiêu của Công ty. Tôi sẽ không ngại ngần đối mặt với các thử thách, không bỏ cuộc khi gặp khó khăn, chấp nhận hi sinh sự thoả mãn cá nhân cho mục đích chung của đội nhóm. – Trong tư cách của một huấn luyện viện yoga, một người chăm sóc sức khoẻ cho khách hàng, tôi sẽ luôn luôn quan tâm, chú ý đến khách hàng là mục tiêu hàng đầu. Cống hiến thời gian, tài năng và nguồn lực của mình để phát triển cá nhân, cho sứ mệnh phục vụ sức khoẻ cộng đồng. Những việc tôi làm sẽ tạo nên sự khác biệt cho cuộc đời của nhiều người khác.
– Trong tư cách của một blogger và một YouTuber, tôi sẽ làm ra các sản phẩm có ý nghĩa với sự đầu tư về chất lượng và nghiên cứu thông tin
– Trong tư cách là một người viết sách: Tôi sẽ tạo ra các tác phẩm mang đến những thông điệp tích cực, bằng những trải nghiệm của bản thân mình bao gồm những sai lầm, những suy nghĩ để giúp đỡ những người trẻ tuổi, thế hệ sau những bài học và lựa chọn đúng con đường của mình.
– Trong tư cách của một người chơi đàn violin: Tôi sẽ mang đến cho người nghe khoảng thời gian thư giãn, thả mình vào tiếng đàn. Tiếng đàn của tôi sẽ mang lại niềm vui và sự tích cực để người nghe vui sống trong cuộc đời này.
– Là một học giả: Tôi sẽ luôn là người lắng nghe, học hỏi. Tôi sẽ lắng nghe và quan sát nhiều hơn, không trì hoãn và học hỏi thêm nhiều điều mới mỗi ngày. Luôn giữ thái độ khiêm tốn và cầu tiến trong mọi hành động, lời nói hàng ngày với tất cả dù là đồng nghiệp hay người thân.
III. Lựa chọn mục tiêu:
1. Chân thành nhưng quyết đoán
2, Mỗi năm thông thạo một điều mới
3. Ngày hôm nay tính việc ngày mai
4. Duy trì thái độ tích cực
5. Giữ óc hài hước
6. Chỉn chu trong công việc và đời sống cá nhân
7. Không sợ mắc sai lầm, chỉ sợ khi không có những biện pháp sáng tạo mang tính xây dựng và sửa chữa cho những sai lầm ấy
8.Hỗ trợ nhân viên cấp dưới thành công
9. Lắng nghe quan trọng gấp đôi việc nói
10. Tập trung làm tốt nhất những công việc trước mắt, đừng bận tâm đến việc thăng tiến hay công việc sắp tới.
11. Tôi sẽ tìm cách cân bằng tốt nhất giữa sự nghiệp và gia đình bở cả hai đều quan trọng với tôi.
12. Nhà tôi sẽ là nơi mà tôi và gia đình, bạn bè, khách khứa tìm thấy niềm vui, sự thoải mái, bình an và hạnh phúc. Tôi vẫn sẽ tìm cách kiến tạo một môi trường sạch sẽ và ngăn nắp, thoải mái và giàu sức sống. Tôi sẽ khôn ngoan hơn trong việc lựa chọn ăn uống, đọc, xem và làm ở nhà. Tôi trân quý các quyền, sự tự do, trách nhiệm của xã hội dân chủ. Tôi sẽ là một công dân tận tuỵ và sẻ chia, tham gia hoạt động xã hội để khiến cá nhân mình thật sự có giá trị.
13. Tôi sẽ trở thành một cá nhân biết tự khởi đầu, luôn tự đề ra sáng kiến để đạt được mục tiêu của cuộc đơì. Tôi sẽ chủ động nắm bắt tình huống và cơ hội, thày vì phản ứng bị động. Tôi sẽ luôn nỗ lực để giữ bản thân tránh xa những thói quen nghiện ngập và huỷ hoại. Tôi sẽ xây dựng những thói quen mà giúp giải phóng tôi khỏi những gì người khác gán cho tôi, những giới hạn cũ để mở rộng khả năng lựa chọn của tôi.
14. Tiền sẽ là người hầu, chứ không phải ông chủ của tôi. Tôi sẽ đạt được sự độc lập về tài chính theo thời gian. Ước muốn của tôi sẽ tuỳ thuộc vào nhu cầu và phương tiện mà tôi có. Tôi sẽ luôn giữ cho bản thân thoát khỏi những món nợ tiêu dùng. Tôi sẽ chi ít hơn những gì kiếm được và thường xuyên tiết kiệm hoặc đầu tư một phần thu nhập của mình. Và hơn nữa tôi sẽ sử dụng tiền và tài năng của mình để giúp cuộc sống này hữu ích hơn cho những người khác bằng hành động phụng sự.
15. Là môt người chính trực, tôi sẽ luôn hành động dựa trên cách quyết định khách quan, gạt bỏ các yếu tố cảm xúc ra ngoài. Tôi sẽ luôn đúng giờ.
Bước ra khỏi vùng an toàn
Vùng an toàn được hiểu là trạng thái tâm lý thoả mãn mà bạn luôn cảm thấy thoải mái về mặt cảm xúc. Điều đó giúp bạn luôn có cảm giác an toàn, quen thuộc với môi trường hiện tại mà không muốn rời bỏ nó. Việc sống trong vùng an toàn giúp bạn hạn chế sự lo sợ, không thoải mái và thiếu chắc chắn. Vì bản thân luôn cảm thấy có thể nắm chắc được sự kiểm soát trong bất cứ tình huống nào diễn ra trong ngày. Ngoài ra, khi bạn sống trong vùng an toàn, bạn sẽ phải làm những việc lặp đi lặp lại hàng ngày mà không hề có sự lo lắng bất an nào.
Sau khi bước ra khỏi vùng an toàn và nhìn lại, đối chiếu với định nghĩa, tôi nhận ra rằng mình đã sống trong vùng an toàn trong khoảng thời gian 1-2 năm. Đó là nơi tôi đã cống hiến sáu năm nghề nghiệp và cũng là nơi tôi học hỏi được nhiều thứ nhất. Nếu bạn ở một nơi nào đó đủ lâu, quen thuộc với nhịp điệu của nơi đó thì dần dần nơi đó sẽ trở thành vùng an toàn của bạn. Cũng giống như ngôi nhà của mình, nếu bạn cứ ở đó mãi, bạn sẽ không thể lớn. Khi đủ trưởng thành, đủ lông đủ cánh, đủ kiến thức, bạn cần ra bước ra ngoài để chiến đấu với cuộc đời. Bước ra khỏi vùng an toàn chỉ đơn giản là như vậy. Sau hơn 6 năm cống hiến, tôi từ bỏ mọi hứa hẹn để bước ra bên ngoài, sẵn sàng một tâm hồn đẹp chịu đựng đau thương. Amy Poehler, diễn viên, dạo diễn, nhà sản xuất phim kiêm nhà văn người Mỹ từng nói rằng: “ Thật khó để có được những ý tưởng. Thật khó để dám ném mình ra ngoài kia, để chọn bị tổn thương, nhưng những người làm được điều đó là những người có mơ ước, những người dám duy nghĩ và những người kiến tạo. Họ là những con người kỳ diệu của thế giới này”. Tôi không mong mình là người kỳ diệu của bất kỳ ai, chỉ mong khi đi hết cuộc đời, tôi có thể nở một nụ cười mãn nguyện dành tặng cuộc sống tốt đẹp.
Bước chân đầu tiên của tôi ra bên ngoài cũng chính là bước chân đầu tiên tôi bước vào vùng sợ hãi và tổn thương. Trong cuốn sách dám lãnh đạo, Brene Brown nói rằng: “Bạn không thể có sự can đảm nếu không chiến đấu với sự tổn thương”. Can đảm và tổn thương chính là hai mặt của một vấn đề trong quan điểm của Lão Tử. Có tổn thương mới có can đảm, khi can đảm tiến về phía trước, chúng ta sẽ có thêm những tổn thương. Nhưng vòng lặp này không phải là vòng tròn đơn điệu. Đó sẽ là vòng tròn xoắn ốc đi lên và đi lên. Can đảm đối diện với tổn thương là chúng ta can đảm hơn, và chúng ta lại tổn thương hơn để can đảm hơn cho đến một ngày chúng ta không còn cảm thấy tổn thương thì không còn cần sự can đảm. Khi đó chúng ta đã đạt tới đỉnh cao của một sự tự do cảm xúc, mọi biến động biên ngoài không làm ảnh hưởng đến cảm xúc của bản thân. Bạn đã có một nội tâm vô cùng vững mạnh. Ai có thể làm được điều đó?
Thú thực tôi cũng chưa đạt tới mức đó. Tôi vẫn đang trên con đường tìm cách để rèn luyện cho chính cảm xúc của mình, để nội tâm trở lên vững mạnh hơn. Nhưng tôi không thể ngồi nhà để bảo tôi rằng tôi tự vững mạnh hơn, chỉ có một cách duy nhất làm nội tâm vững mạnh đó chính là trải qua sự sợ hãi và tổn thương. Cách duy nhất chính là dùng chính thân thể này trải nghiệm bằng cảm giác chân thực và sống động. Nhưng sẽ thật ngốc ngếch nếu biết ngoài kia là bão tố, mà ta cứ liều mình lao ra, không mặc cho mình một tấm áo giáp. Tôi cần chế tạo một chiếc áo giáp. Chiếc áo giáp mà tôi đang chuẩn bị cho mình đó là năng lực nhận thức, năng lực nhận thức rằng mình đang tổn thương, năng lực nhận thức rằng sự tổn thương đó là một phần con người mình. Đừng cố gạt nó ra, hãy nhẹ nhàng ôm nó vào lòng như ôm một đứa trẻ vừa bị vấp ngã trong bước đi đầu tiên. Khi sự tổn thuơng không tách rời con người, nhưng cũng không đồng nhất với ý thức thì tự nhiên ta sẽ có can đảm để bước về phía trước.
Chúng ta thường hay nghe câu nói rằng: Không suy nghĩ về quá khứ, không mơ tưởng tới tương lai, chỉ tập trung vào giây phút hiện tại. Nhưng phần lớn thời gian của chúng ta thương hay xoay quanh quá khứ và tương lai. Người ta đặt câu hỏi rằng, làm sao có thể tập trung và giây phút hiện tại? Câu trả lời lại thật đơn giản: chỉ cần không suy nghĩ về quá khứ, không mơ tưởng về tương lai thì tự nhiên thấy mình đang ở hiện tại”. Chiến đấu với tổn thương đơn giản chính là lựa chọn mình bị tổn thương thì tự nhiên thấy mình can đảm. Brene nói rằng : “Cuộc sống hàng ngày được xác định bởi những trải nghiệm mơ hồ, nguy hiểm và những cảm xúc trần trụi. Chúng ta không có quyền khước từ nó, nhưng có hai lựa chọn như sau: Lựa chọn tổn thương hoặc để tổn thương lựa chọn bạn. Lựa chọn tổn thương là một các dùng ý chí nắm bắt cảm xúc, học cách chiến đấu, thúc đẩy hành vi, từ đó đường đường chính chính sống với những giá trị của bản thân. Ngược lại nếu để tổn thương lựa chọn chúng ta, chúng ta sẽ bị cảm xúc sợ hãi bủa vây bao gồm cả ý chí dẫn đến những hành động thiếu suy nghĩ hoặc tự khép mình”.
Sức mạnh của sự hợp nhất của ý thức, tâm hồn, cơ thể và tự đồng cảm.
Tôi hoàn thành vòng phỏng vấn cuối cùng của một vị trí phù hợp với năng lực của tôi, ở một công ty sẽ là bàn đạp lý tưởng cho những dự định sau này của bản thân mình. Hai ngày trôi qua, tôi không nhận được phản hồi, tôi bắt đầu cảm thấy bồn chồn lo lắng, đôi lúc xen vào là cảm giác sợ hãi. Không biết nếu khả năng xấu nhất xảy ra, mình sẽ ra sao. Trước đây, tôi háo hức về tương lai bao nhiêu thì lúc đó, tôi lại cảm thấy sợ hãi với tương lai bấy nhiêu. Tôi tìm các cách khác nhau để cố gắng tìm hiểu tương lai của mình rồi sẽ diễn ra thế nào: xem tử vi, trả lời các bài quiz trên internet, xem tarot… Bao nhiêu quan điểm về tự nhiên của tôi dường như biến mất, chỉ còn lại sự chìm đắm trong sự lo lắng và bất an. Tôi bắt đầu hỏi mình vì sao mình lại lo lắng? Như bao lần tự tìm hiểu nguyên nhân cho vấn đề của mình. Hay có phải não đã dừng tư duy lâu quá đến mức không muốn hoạt động nữa. Tôi cố gắng đối diện chân thực nhất với chính mình trước những thất bại đã qua, tự hỏi mình vì sao lại lo lắng như vậy? Tôi tự đưa ra một vài lựa chọn cho chính mình. Có phải tôi không dám thử thách mình trong một lĩnh vực mới, nên muốn quay trở lại con đường cũ? Có phải tôi lo lắng quá về vấn đề tài chính mà không dám để bản thân chịu khổ cực một thời gian? Có phải tôi sợ rằng nếu không nắm bắt được cơ hội này thì những gì tôi vẽ ra cho tương lai của mình sẽ tan biến? Có phải tôi sợ rằng sẽ mất đi vỏ bọc tài giỏi trong mắt mọi người?
Cõ lẽ là mỗi lựa chọn đã đóng góp một chút cho sự sợ hãi của tôi. Tôi sợ phải bắt đầu từ con số 0 trong một lĩnh vực mới, tôi sợ rằng qua một tháng nữa tôi sẽ không còn được trợ cấp tài chính, tôi sợ rằng bản thân phải sống dưới mức sống hiện tại tôi đang có, tôi sợ rằng tương lai không đi đúng con đường tôi vẽ, tôi sợ rằng tôi là người thua cuộc, đáng thương, tội nghiệp trong mắt mọi người. Phải, bằng sự trung thực với chính bản thân mình, tất cả những thứ đó gom lại tạo nên một tôi của hôm nay. Tôi không thể tập trung làm những việc cần làm, kiểm tra email thường xuyên, không muốn ăn uống, nằm dài như một con mèo lười hoạt động. Chỉ cần một tiếng email ting ting cũng ngay lập tức làm tôi thấp thỏm, đứng ngồi không yên. Bằng những ý chí còn lại của một sự khách quan, tôi buộc mình phải đứng dậy, làm bất cứ điều gì có thể để thoát ra khỏi tình trạng này. Tôi đi bộ, đi rất lâu, đến bao lâu tôi cũng ko để ý. Tôi không xem điện thoại, không đeo tai nghe, chỉ đi và đi. Rồi tôi chợt nhận ra rằng mình đang đi ngược lại với chính những gì mình tự nhủ trước đây. Tôi đang cố gắng kìm nén cảm xúc. Và rồi tôi quyết định thả mình vào đó, không kìm nén nữa, nhưng tôi cần đủ tỉnh táo để ý thức không cuốn bản thân hành động theo cảm xúc. Ý thức của tôi không được bám vào đó, tôi cần tỉnh táo hơn để nhìn thấy cơn cảm xúc đó diễn ra trong cơ thể này ra sao, các bộ phận của cơ thể đang cảm nhận như thế nào.
Khi một cảm xúc nổi lên, tôi để bản thân được thả lỏng trong đó, bất kể là hạnh phúc, hi vọng, đau khổ, tiếc nuối. Bất cứ cảm xúc gì, đừng cố gắng đè nén, dùng ý thức để nhận thức mình đang trong trường cảm xúc như thế nào, gọi tên nó. Dùng ý thức quan sát cơ thể xem phản ứng đang ra sao, đang căng cứng chỗ nào không, nếu có hãy thả lỏng, hãy cứ chìm đắm trong đó. Một điều duy nhất tôi biết là tôi cần làm đó là tách rời ý thức ra khỏi cảm xúc ấy. Đừng để ý thức hoà vào cảm xúc hi vọng hay bi thương đó. Dùng ý thức của mình quan sát cảm xúc và rồi nó sẽ đi qua. Khi nó đã đi qua, tôi cảm thấy như mình đã trút được một gánh nặng, mọi thứ trở nên nhẹ nhàng và tôi cũng học được cách chấp nhận hiện thực, không hối tiếc cũng không mong chờ. Đó là sức mạnh của sự hợp nhất ý thức, cảm xúc và cơ thể.
Tâm lý nạn nhân?
Bạn có khi nào cảm thấy chúng ta là nạn nhân trong tất cả những vấn đề xảy ra xung quanh chúng ta. Tất cả những rắc rối, khó khăn của cuộc sống, những mối quan hệ phức tạp biến chúng ta trở thành nạn nhân của sự đau khổ. Nếu không sẽ là chúng ta tự đổ lỗi cho chính mình, trách cứ mình vì sao lúc đó lại ngu ngốc, làm những điều dại dột như vậy. Trách mình tại sao không dành nhiều thời gian để đào sâu nghiên cứu và tìm hiểu. Gần đây, tôi có nghe một bài postcard về những giây phút ngu và nhận ra rằng đây là những giây phút cần thiết trong cuộc đời để kích hoạt bộ não hoạt động, Chính những giây phút ngu này sẽ yêu cầu bộ não lục tìm tất cả các cách có thể, vận hết các khả năng cần thiết để vượt qua giai đoạn ngu đó. Dù thất bại, nhưng đó là cơ hội cần thiết để kéo chúng ta về thực tại.
Chúng ta sinh ra và lớn lên trong sự so sánh của bố mẹ với bạn bè cùng trang lứa. Khi tự lập trong cuộc sống, ta lại mải mê tự so sánh chính mình. Ta cứ mải miết tìm cách đồng cảm với người khác mà quên đồng cảm với bản thân. Chính trong những phút giây tự trách cứ, đổ lỗi cho bản thân là giây phút sự tự đồng cảm nhất cần thiết nhất.
Tự đồng cảm là khả năng hiểu và chấp nhận cảm xúc của bản thân mình một cách chân thành. Đó là việc nhận diện cảm xúc của mình mà không phán xét, chối bỏ hay cố gắng ép buộc bản thân có cảm giác khác đi.
Chấp nhận sự khác biệt và chấp nhận cảm xúc của mình ở thời điểm hiện tại kể cả cảm xúc tiêu cực là bước đầu tiên của sự tự đồng cảm. Không cần phải cố gắng ép buộc mình cảm thấy khác đi khi mình đang đau buồn và thất vọng, chấp nhận thực tại bản thân mình đang cảm thấy như thế nào, nếu có thể hãy gọi tên cảm xúc đó rằng: “tôi đang buồn”, “tôi đang vui”, “tôi đang thất vọng” “tôi đang tràn trề hi vọng”….
Mỗi người nhìn thế giới bằng những lăng kính khác nhau. Được sinh ra trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau, cùng với các trải nghiệm trong cuộc sống, ảnh hưởng của những truyền thống văn hoá gia đình, và cách tiếp thu kiến thức khác nhau khiến nhiều quan điểm được sinh ra từ một vấn đề. Không có sự đúng hay sai, mỗi quan điểm đều phù hợp với cách nhìn của người đó tại thời điểm đó. Bản thân chúng ta cũng vậy, tại thời điểm cảm xúc tiêu cực, nó không đúng không sai, chỉ đến vào thời điểm đó và rồi sẽ ra đi. Việc của chúng ta chỉ là dang đôi tay đón nhận, sau đó mở rộng đôi tay để nó ra đi.
Không phán xét là bước thứ hai của việc thực hành tự đồng cảm. Những người đặt kỳ vọng cao vào bản thân thường có xu hướng phán xét bản thân nhiều hơn khi thất bại. Tôi là một người luôn có xu hướng kỳ vọng cao vào bản thân, thậm chí tới mức yêu cầu mọi kết quả mình làm ra đều phải đạt được một mức độ hoàn hảo nhất định. Chủ nghĩa hoàn hảo đã từng dần dần ăn mòn, biến tôi thành một người khác mà tôi không nhận ra. Nếu bạn từng tham gia các nhóm phát triển bản thân, bạn sẽ thấy một dòng trạng thái trên mạng xã hội như: Thói quen của một người thành công là dậy sớm từ 5h sáng và sau đó là một danh sách những công việc của họ làm trong ngày. Tôi cũng dậy từ 5h sáng, nhưng mục đích của tôi dường như không giống. Tôi bắt đầu đi kể câu chuyện này cho những người khác để thể hiện với họ rằng, tôi đang cố gắng nằm trong danh sách của những người thành công đó. Mất một thời gian rất lâu, tôi mới nhìn ra mục đích thực sự của bản thân mình trong việc này. Việc cố đánh lừa bản thân không những không tốt mà còn lái tôi sang một con đường khác, con đường tô vẽ bản thân đẹp đẽ trong mắt người khác.
Do đó, không phán xét, không nhận xét là bước thứ hai để ta bước vào làm bạn với chính mình ở một hình thái nguyên sơ nhất. Tôi rất thích chơi với trẻ em vì trẻ em luôn thể hiện cảm xúc của chúng một cách chân thực. Chúng không cố gắng dùng bất cứ tấm màn nào để đánh lưà hay che đậy cảm xúc của mình. Người ta hay có câu miêu tả chúng rằng: “Giòn cười, tươi khóc”. Chúng thể hiện cảm xúc của mình như những gì chúng đang cảm thấy. Với tôi đây là cách tôn trọng bản thân tuyệt vời nhất. Do đó, hãy để cảm xúc của bản thân mình như đứa trẻ đó, để chúng lên tiếng như chúng đang là.
Và cuối cùng là chánh niệm. Tôi xin phép mượn yếu tố này từ bài giảng của thầy Thích Minh Niệm: Giữ im lặng và mọi thứ tự nhiên đến được phát trên kênh Youtube: Postcard Thức Tỉnh. Chánh niệm là nhìn lên một đối tượng mà không mang theo thái độ yêu ghét hay chống đối lên đối tượng quan sát, nhìn đối tượng bằng con mắt trong suốt, con mắt không mang theo thành kiến, định kiến. Thành kiến là kinh nghiệm tích luỹ, định kiến là kiến thức tích luỹ chưa có cơ hội được trải nghiệm. Thành kiến là những kinh nghiệm đã trải qua được tích luỹ theo năm tháng. Chúng ta bao phủ lớp thành kiến và định kiến lên đối tượng với mục đích bảo vệ mình.
Khi ở trong một trạng thái tiêu cực, lớp thành kiến và định kiến mà tôi thường phủ lên đó là suy nghĩ đây là một trạng thái không tốt, chỉ dành cho những người yếu đuối. Những người luôn lạc quan, luôn làm chủ cảm xúc sẽ không cảm thấy như vậy. Lớp thành kiến này đã làm cho tôi bên ngoài thì thể hiện mình là người luôn mạnh mẽ, vui tươi yêu đời, nhưng bên trong lại đang cố đè nèn những cảm xúc đau buồn, cô đơn. Vậy tôi cần sử dụng chánh niệm như thế nào trong trường hợp này? Đó là quan sát cảm xúc tiêu cực mà không nhận xét, không phán đoán, không cần biến mình thành người mạnh mẽ, vui tươi. Chính là chấp nhận tiêu cực ở phút giây đó, thả lỏng cơ thể trong trạng thái tiêu cực ấy mà không làm bất cứ hành động gì để ủng hộ cũng như phản đối nó. Để nó tự diễn ra như một đứa trẻ qua cơn khóc rồi sẽ nín và trở lại vui vẻ.
Duy trì thói quen tích cực và kiên trì tiến về đích
Kiên trì là một hành trình dài và trên hành trình này, đôi khi thử thách có thể khiến ta lung lay như tôi đã từng bị lung lay tại thời điểm 35 tuổi, không xác định được giá trị của mình, không biết mình sinh ra để làm gì, không biết mình cố gắng vì điều gì. Xác định giá trị cốt lõi của bản thân chính là điểm tựa vứng chắc nhất để vượt qua những trở ngại trên hành trình kiên trì về đích.
Tôi đã xác định giá trị cốt lõi của bản thân bằng cách thức được mô tả bên trên. Tuy nhiên, việc hiện thực hoá các giá trị cốt lõi này chỉ có thể thực hiện bằng những thói quen hàng ngày. Chúng ta thường đánh giá quá tầm quan trọng của một khoảnh khắc đặc biệt, khoảnh khắc thành công mà quên đi sự nỗ lực bền bỉ lâu dài nằm phía sau đó. Trên thực tế, niềm vui thú, niềm tự hào của một khoảnh khắc đặc biệt diễn ra rất ngắn, có thể là vài giờ, thậm chí chỉ vài phút hay vài giây. Do đó, tận hưởng, nhập tâm từng giây từng phút trong quá trình thực hiện là điểm mấu chốt để chúng ta có thể tận hưởng trọn vẹn niềm vui của thành quả đạt được. Việc tận hưởng ở đây bao gồm cả việc chìm đắm trong cảm xúc đau buồn, tổn thương của việc thất bại, hay tận hưởng cảm giác thăng hoa của những cảm xúc vui sướng khi thành công.
Chúng ta thường xuyên thuyết phục bản thân rằng những thành công vĩ đại đòi hỏi những hành động lớn lao từ đó chúng ta tự tạo áp lực cho bản thân phải làm những điều chấn động, có sức ảnh hưởng để nhận được sự ca tụng. Tôi cũng đã từng nghĩ như vậy. Do đó, khi một ngày trôi qua lặng lẽ, không có điều gì đặc biệt thường khiến chúng ta cảm thấy nhàm chán và thất vọng. Tôi sửa chữa sự nhàm chán đó bằng cách tiêu dùng thời gian của mình vào mạng xã hội, hoặc để tìm cách nhận được sự ca tụng thường xuyên của người khác, đề cao giá trị của chính mình, hoặc để quên đi sự lặng lẽ của bản thân. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng, kết quả giá trị chỉ đến khi chũng ta duy trì sự lặng lẽ kiên trì và bền bỉ trong một thời gian dài bằng cách duy trì những thói quen nhỏ và coi đó như việc được nhiên hàng ngày. Cuốn sách “Thay đổi tý hon, hiệu quả bất ngờ” của tác giả James Clear đã chỉ ra rằng: Việc cải thiện 1% không có gì đáng chú ý cả, đôi khi chẳng là gì nhưng nó có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt trong một thời gian dài. 1% cải thiện mỗi ngày, những thói quen chính là lãi suất kép của việc tự cải thiện bản thân. Lựa chọn 1% tốt hơn hay 1% tệ đi dường như không có sự khác biệt tại thời điểm đó. Nhưng nó sẽ là điểm khởi đầu đưa bạn đến với hai con đường khác nhau hoàn toàn. Thời gian chính là đòn bẩy cho sự lựa chọn quyết định này. Với thói quen tốt, thời gian là đồng minh. Với các thói quen xấu, thời gian là kẻ thù. Việc biến thời gian thành đồng minh hay kẻ thù chính là sự lựa chọn của chúng ta trong thời điểm quyết định. Thói quen xấu khiến chúng ta thất bại cũng dễ như những thói quen tốt khiến chúng ta thành công. Thói quen tạo nên đặc tính, đặc tính tạo nên thói quen.
Có phải bạn đang định hỏi tôi: thói quen tích cực hàng ngày của tôi là gì và tôi đã duy trì như thế nào? Bằng một cách chân thực với bản thân, tôi đang cố gắng loại trừ nhiều nhất có thể những thói quen tiêu cực ra khỏi cuộc sống. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa hoàn toàn thành công. Vẫn sẽ có những ngày, tôi mải mê lướt điện thoại, hoặc ngủ muộn hơn 11h, hoặc mang công việc lên giường ngủ – những điều mà Jame Clear cảnh báo trong cuốn sách “thay đổi tý hon, hiệu quả bất ngờ” là không nên. Việc áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn đòi hòi một sự nỗ lực vượt trội, vượt qua những mô thức, thói quen thông thường đã hằn sâu vào trong tâm thức và cơ thể của chúng ta nhiều năm. Nỗ lực này tương đương với nỗ lực luôn yêu cầu hệ thống 2, hệ thống tư duy chậm hoạt động thường xuyên cho những thói quen nhỏ hàng ngày. Việc nỗ lực thường xuyên của hệ thống tư duy chậm trong từng hành động khiến ta cảm thấy mệt mỏi, đôi khi là nản chí. Do đó, sự tham gia không thường xuyên của những thói quen xấu là hồi chuông cảnh tỉnh cho ý thức của tôi cần phải quay lại và cố gắng hơn nữ để không lặp lại thói quen xấu đó. Tôi tự hỏi bản thân mình rằng đây có phải là lý luận tôi dùng để cố gắng bào chữa cho sự thất bại trong quá trình phát triển bản thân? Tôi thực sự chưa trả lời được câu hỏi này, vẫn đang rất phân vân với mục đích chân thực nhất với bản thân mình. Dù câu trả lời là như thế nào, thành quả mà tôi mong muốn là duy trì thói quen trong một thời gian dài, và trên chặng đường đó, tôi chấp nhận những thất bại nhỏ, những bước lùi để lấy không gian cho mình tiến về phía trước. Tôi chấp nhận sự không hoàn hảo ở một mức độ nhất định để đi xa hơn.
Leave a comment